Từ thuở dựng nước, rừng đã là tấm áo xanh che chở cho dân tộc Việt Nam, là nơi nuôi dưỡng sinh khí và hun đúc bản lĩnh kiên cường của con người. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, rừng không chỉ có ý nghĩa về sinh thái.
Rừng là ký ức của dân tộc trong những năm tháng kháng chiến, là nguồn sống của bao thế hệ, và cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ thiên nhiên cho mai sau. Khi nhìn vào rừng, ta không chỉ thấy cây cối, mà còn thấy cả lịch sử, văn hóa và tương lai của đất nước.
Rừng ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ sinh thái rừng phong phú bậc nhất Đông Nam Á.
Rừng Việt Nam đa dạng, được phân loại theo chức năng và mục tiêu quản lý. Mỗi loại rừng mang một vai trò riêng, nhưng tất cả cùng hòa quyện để tạo nên lá phổi xanh của đất nước.
Rừng đặc dụng
Rừng đặc dụng là nơi bảo tồn đa dạng sinh học, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và bảo vệ các loài động, thực vật đặc hữu. Đây cũng là không gian dành cho nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, đồng thời kết hợp phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.
Những vườn quốc gia như Cúc Phương (Ninh Bình), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Trị) hay Cát Tiên (Đồng Nai), Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh) chính là minh chứng cho những giá trị đặc biệt của rừng đặc dụng.

Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát ở Tây Ninh

cây Di Sản được bảo tồn ở vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
Là nơi thiên nhiên và văn hóa hòa quyện, mang đến những trải nghiệm vừa mang tính học hỏi vừa thư giãn cho con người.
Rừng phòng hộ
Rừng phòng hộ có nhiệm vụ bảo vệ nguồn nước, đất đai, chống xói mòn và điều hòa khí hậu. Đây là những cánh rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển hay rừng chắn cát ở miền Trung. Chúng đóng vai trò như “tấm khiên” chống lại thiên tai: ngăn lũ lụt, chắn gió bão, giữ đất, bảo vệ đê biển và các vùng đất thấp.

rừng phòng hộ gần khu vực biên giới của Tây Ninh

Không chỉ bảo vệ môi trường, rừng phòng hộ còn mang ý nghĩa quốc phòng, giữ vững an ninh sinh thái và bảo đảm sự ổn định cho đời sống cộng đồng.
Rừng sản xuất
Rừng sản xuất là nơi cung cấp lâm sản như gỗ, củi, tre, nứa, đồng thời kết hợp với nông nghiệp và du lịch sinh thái. Các loại rừng sản xuất phổ biến có thể kể đến: rừng keo, bạch đàn, vừa tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, vừa mang lại thu nhập cho người dân.
Đây là loại rừng gắn liền với sinh kế, giúp hàng triệu hộ gia đình miền núi có việc làm, ổn định cuộc sống, đồng thời góp phần phát triển kinh tế xanh và bền vững.
Thực trạng rừng Việt Nam

Việt Nam vốn được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, có hệ động thực, vật đa dạng, cùng nguồn nước dồi dào, nhưng trong quá trình phát triển, rừng Việt Nam từng bị khai thác quá mức. Nguyên nhân đến từ chiến tranh, sự tàn phá và đô thị hóa nhanh chóng đã khiến diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng. Ước tính, cuối thập niên 1980, độ che phủ của rừng Việt Nam chỉ còn khoảng 27%. Và đây là một con số đáng báo động, cho thấy sự mất mát lớn lao của “lá phổi xanh” quốc gia.
Trong giai đoạn 1943 - 1995, tỷ lệ che phủ của rừng giảm từ 43% xuống còn 27,2%. Từ năm 2001 - 2017, tỷ lệ này tiếp tục ghi nhận con số đáng báo động với chỉ 13% cho bình quân cả nước.
Tuy nhiên, từ đầu những năm 2000, rừng Việt Nam đã có những điểm sáng mới, những bước tiến quan trọng trong phục hồi. Chỉ trong giai đoạn 2001 - 2012, diện tích đồi trọc được che phủ đã tăng thêm 564.000 ha, tương đương 0,7% trên toàn cầu. Đến năm 2016, diện tích rừng chiếm 47,6% tổng diện tích đất toàn quốc, trong đó có khoảng 10 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm 70% tổng diện tích rừng.


Và trong giai đoạn hiện nay, nhờ các chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, cùng với Đề án “Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025”, diện tích rừng Việt Nam đã tăng trở lại với hơn 14,8 triệu ha, độ che phủ đạt trên 42%. Đặc biệt, sau 5 năm triển khai đề án, cả nước đã trồng được hơn 1,4 tỷ cây xanh, vượt 143,9% so với mục tiêu đề ra.
Rõ ràng, đây là một thành tựu lớn, cho thấy sự đồng lòng của toàn xã hội trong việc hồi sinh màu xanh cho tổ quốc.
Dẫu vậy, bức tranh rừng Việt Nam vẫn còn nhiều gam màu trầm. Phần lớn diện tích rừng hiện nay là rừng trồng và rừng phục hồi, trong khi rừng nguyên sinh, nơi lưu giữ đa dạng sinh học phong phú, vẫn đang tiếp tục bị thu hẹp.
Rừng Việt Nam hôm nay vẫn xanh, nhưng chưa thật sự bền vững; vẫn rộng, nhưng cần thêm sự chăm sóc để giữ lại nguồn gen quý hiếm và sự cân bằng sinh thái.

Kết
Nhìn lại hành trình của rừng Việt Nam, ta thấy rõ những thăng trầm: từ những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, đến giai đoạn suy giảm nghiêm trọng, rồi lại hồi sinh nhờ nỗ lực của cả dân tộc. Rừng hôm nay vẫn xanh, nhưng đâu ai dám chắc rằng nhiều năm sau, những tán rừng ấy liệu vẫn còn đó.
Nên giữ rừng không chỉ là giữ đất, giữ nước, mà còn là giữ lấy linh hồn dân tộc và khát vọng phát triển bền vững.
—-----
CREDIT:
- Photography: Kien Trang
- Content: Giang Huynh
- Design: Phuong Nguyen





















